Thư ba, Ngày 22/04/2014
Trang chủ Giới thiệu Diễn đàn Liên hệ Đặt làm trang chủ  
Danh mục
  + Thủy tổ - thần tổ Vũ Hồn
  + Làng Tiến sĩ Mộ Trạch
  + Hoạt động dòng họ Vũ - Võ
  + Dòng họ Vũ - Võ Việt Nam
  + Khuyến học - Khuyến tài
  + Thơ ca - Câu đối - Danh ngôn
  -  Thơ ca
  -  Câu đối
  -  Danh ngôn
  + Thư viện ảnh - Video Clip
  + Hồn Việt
Hỗ trợ trực tuyến
Vũ Xuân Kiên
Hotline: 09.345.17.666
 Bình luận
võ thị mỹ tiên : hay co gang phat huy nhung kha nang cua minh.de xung dang vs cau noi "ko ho danh la con chau ho vũ-võ
Võ Duy HÙng : gốc gác tôi từ đây sao! về với đất mẹ! cháu là võ duy hùng ở QUảng trị
le thanh son : minh họ vũ thất lac đã lâu bây gio muốn tìm lại cội nguồn phãi làm sao day ??? trã lời dùm mình nhé
Vũ Đức Đại : Cháu là cháu nội của Ông Vũ Quang Tiến và bà Lại Thị Đương, quê quán xã Đông Vinh, huyện Đông Hưng. Tìm Ông Vũ Đức Thiên Ông Thiên bỏ nhà đi năm 1945,hồi đó Ông còn trẻ và giúp việc (cho bên ngoại của Ông Vũ Quang Tiến vì một lý do bị nghi mất nồi đồng nên Ông bỏ đi và không liên lạc với gia đình. Nay Ông còn sống khoảng 84 tuổi. Con cháu cầu mong Ông còn sống hoặc các Cô, Chú con Ông đọc được tin này liên hệ với gia đình hoặc cháu Vũ Đức Đại số điện thoại 0934288663 hoặc địa chỉ số nhà 37, ngõ 107, tổ 38, phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội.
martin vu : I am their father vu.I wish all their members happy and healthy .. successful.
Vũ thị KÍnh : Tìm gia đình Ông Vũ phương Đằng ,có con traii la VŨ PHƯƠNG , con gái là VŨ THỊ QUỲNH. trươc đây Ông Đằng làm tại ban bản đồ địa chất thuộc xã Quảng An Tây Hồ hà nội.ai biết gia đình ông đằng ở đâu xin liên hệ theo số đt: 0906215898
vu thi nhat linh : chau cam thay rat tu hao ve dong ho vu
Vũ Viết Cường : Chúc mừng chú Đam. Rất ngưỡng mộ chú.
Võ Mai Phương : Cảm thấy tự hào khi là con cháu dòng họ Vũ -Võ
Vũ Đức Sơn : Cháu Vũ Đức Sơn (Quê Tri Thủy, Xã Tri Thủy huyện Phú Xuyên, nay sống tại TT Thường Tín - HN, cháu đang công tác tại HN, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dự án CNTT), lần đầu vào trang họ Vũ Võ, rất mong tìm được nhiều thông tin hữu ích mà nhiều năm nay canh cánh trong lòng. Sống phải biết nguồn cội, Chúc các ông bà và toàn thể mọi người khỏe mạnh, hạnh phúc! (0912591156).
vo duy hop : toi rat tu hao vg toi la nguoi ho vo nhung toi nghe cac bo lao ke truoc day la ho vu. hien tai toi mag dong ho VO DUY truoc day la Vu Duy. toj rat muon ho vu~vo co the lien ket. ho dai ton vo duy ~xom trung doai xa cam lac huyen cam xuyen tinh ha tinh.
Vũ Đức Đại : Tôi chúc mừng PTT Chính Phủ Ông Vũ Đức Đam
nguyễn Thành : Xin chúc mừng dòng họ vũ có được người con ưu tú. Tôi là người Quảng Ninh , xin chúc mừng anh Đam cựu bí thư và chủ tịch Tỉnh Quảng Ninh. Tôi rất mong anh phát huy các phẩm chất đã có, đặc biệt về tính nhân văn trong lời nói và các hành xử của anh. Chúc Anh thành công hơn nữa. Tôi rất ngưỡng mộ phong cách của Tổng thống Putin. Anh có đồng ý với tôi ý kiến này không. Chào anh và thân thiết ôm anh như những người Quảng ninh thân yêu của anh.
Vũ Mạnh Toàn : Dòng Tọc họ Vũ&Võ muôn năm,
vũ hữu Tín nhánh họ Vũ tại xã hiệp hòa huyện yên hưng tỉnh quảng ninh : cháu xin chào các bậc cao niên các bắc các chú cháu là đời thứ 4 họ vũ vật voi tại làng yên trì xã hiệp hòa huyện yên hưng tỉnh quang ninh. hiện cháu đang học trên hn. cháu có một số câu hỏi mong nhận được sự giải đáp của các bậc cao niên bác chú cô dì trong họ. cháu là thế hệ đời thứ 4 dòng vũ vật voi cháu chỉ biết có thế qua việc nghe ông nội nói, cháu không biết chi nhà cháu ở quang ninh thuộc chi thứ mấy trong dòng họ mong nhận được sự giải đáp ạ. và cháu cũng đang mong có dịp về Lăng Thần Tổ để bái tổ tông, cháu biết hàng năm ngày giỗ tổ vào ngày mùng 3 tết, nhưng cháu muốn hỏi là nếu chau vào các ngày khác trong năm có được vào lăng không ạ. kinh mong các bậc cao niên trong họ giải đáp giúp cháu a.
Vũ Huy Linh : Minh rat tu hao khi minh la 1nguoi trong dong ho vo vu cua viet nam
vũ tú anh : Cam on a kien da lap len website nay. Cho tat ca nhung ai ho vũ võ mai thinh
Vũ ngọc Thạch : Tôi rất tự hào vì mình là con cháu họ Vũ - Võ!
Võ Hoàng Phong : Tôi hiểu rằng,Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã có rất nhiều công ơn với Việt Nam.Cho nên,ngài đáng được hưởng Quốc Tang và đáng tôn thờ,coi trọng
halienvu : rat tu hao minh mang dong ho vu
ha lien vu : mong rang dong ho mai lon manh
Vũ Đức Toàn.Dòng Tộc họ Vũ : CHUC! DONG HO VU&VO CHUNG LA LUON TRUONG TON,THINH VUONG VA PHAT TRIEN-BEN VUNG MAI MAI-DOAN KET-XAY DUNG VA HANH PHUC AM LO
Vũ Văn Minh : Mỗi lần vào trang dòng Họ Vũ Võ là tôi 1 lần xúc động .
vũ minh thắng : đời đời ghi nhớ công ơn của đại tướng Võ Nguyên Giáp.Người là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam cũng như tổ tiên dòng họ ta.
Võ Trường Hải : Mặc dù chỉ được nhìn thấy Đại tướng qua các phương tiện truyền thông, nhưng những gì cháu biết về Ông là cả một trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Thành kính tiễn biệt Đại Tướng Võ Nguyên Giáp - Học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh Cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam, vị tướng tài ba của Thế giới.
Vũ Ngọc Nam : Thật vinh dự và tự hào là con, cháu dòng họ Vũ - Võ nhưng phải làm gì đây để không vướng phải vòng lao lí trong tình huống này. 0989517513- phú thọ
Vũ Mạnh Hùng : Quê Phú Xuyên, Hà Nội: Gia phả ghi lại được 15 đời đến nay khoảng 300 năm. Trước thời gian đó thì không có thông tin nên không rõ gốc phả hệ. Ai biết xin chỉ giùm. Cám ơn nhiều.
Vũ Hoài Sơn : Hôm nay biết được site này ,thấy tự hào quá. Vĩnh biệt Đại Tướng - vị cha già thứ 2 của dân tộc Việt Nam
Vũ Anh Đức : Tối mùa thu Hà nội Mùi hoa sữa nồng nàn Từ quán hàng trà đá Tới các quán hạng sang Đâu đâu cũng một chuyện Rằng Bác Giáp băng hà Một vị tướng tài ba Một con người vĩ đại. Tỏ tấm lòng thương nhớ Mọi người đứng sếp hàng Mong được vào viếng Bác Mùi hoa sữa ngào ngạt Cũng toả hương tiếc thương Và mãi muôn đời sau Vẫn là mùi hoa sữa Một Tướng Giáp toả hương Sẽ có một con đường Mang tên Võ Nguyên Giáp Một con đường ngát hương.
Nguyễn Đức Việt : con không phải là người họ Vũ - Võ, nhưng cho phép con gửi lời vĩnh biệt tới Người anh hùng dân tộc Võ Nguyên Giáp. Bác ra đi để lại niềm tiếc thương vô hạn, nỗi đau đớn không thể nào bù đắp nổi của dân tộc Việt Nam.
Võ Hoàng Anh : Vĩnh biệt người, con tự hào là người Việt Nam,được mang cùng họ với người.
Vũ Hoài THương : không biết khi nào dong họ mình lại tổ chức hội họp ạ!
Vũ Minh Hùng : Đại tướng Võ Nguyê Giáp - Huyền thoại , Huyền thoại mãi Huyền thoại - Bất tử , Bất tử , mãi bất tử.
Vũ Minh Hùng : Việt Nam nói chung , Dòng họ Vũ Võ nói iêng luôn tự hào về Đại tướng Võ Nguyên Giáp .
Vũ Hoàng Phát : VĨNH BIỆT BÁC, NGƯỜI CHIẾN SĨ VĨ ĐẠI. CON YÊU BÁC
Vũ Đức Hạnh : Mình ở Phú Thọ, mong được làm quen với tất cả các thành viên trong dòng họ.
vũ ngọc phan : Người gửi lại xác thân về đất mẹ Hồn phiêu du theo thánh Gióng về trời Đức trí nhân dũng cảm gửi muôn nơi Xây đoàn kết để giữ gìn dân tộc Thánh tướng hiển linh, nhân dân bật khóc Người về trời theo Hưng Đạo Đại Vương Người hóa thánh nhân sao con vẫn luyến thương Một vị tướng tài với tâm hồn bình dị Không ganh ghét không một lần đố kỵ Một vị tướng sẵn sàng chào chiến sĩ Nguyễn Trãi khi xưa hòa chén rượu chung lòng Người lặng thầm để nhân loại ghi công Đất nước sang trang hòa biển lớn từ sông Giữa trong đục dòng đời thay đổi Sóng đời cuồng quay giữa những điều tội lỗi Ta hãy nhìn lại mình trong ánh sáng thánh nhân
Vũ Đức Tòan : Một lần nữa xin cúi đầu kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn bác,chỉ còn 2 ngày nữa thôi Bác mãi đi xa đầt thủ đô yêu dấu,về nơi quê đất Mẹ Quảng Bình,về nơi an nghỉ cuối cùng,Nhưng bác vẫn mãi sống trong tim con người các thế hệ của người Việt Nam!Là một sỹ quan đang tại ngũ,Chúng cháu hứa sẽ tiếp nối cha ông và các thế hệ đi trước đã ra sức đánh đuổi giặc xâm lăng,và quyết giữ bờ cõi đất nước mình được trọn vẹn toàn lãnh thổ,Tổ Quốc Việt Nam ngàn đời yêu quí!Một lần nữa xin Vĩnh Biệt Bác!Vị Anh Cả,đại tướng đầu tiên,Vị tổng tư lệnh của các tư lệnh,của QDNDVN,Và chúng cháu ra sức thi đua học tập đức tính,tấm gương của bác đã truyền vaồcn tim chúng cháu một nhịp đập mải mãi và mãi không ngừng đập.
Võ Quốc Tâm : Tự hào là người họ Võ. Xin ngiên mình kính cẩn tiết thương vị anh hùng dân tộc Đại tướng Võ Nguyên Giap1
Vũ Ngọc Quang : Chúng con kính cẩn nghiêng mình, thắp nén tâm nhang trước anh linh Người Anh hùng Vĩ đại của dòng họ Vũ-Võ Việt nam: Đại tướng Võ Nguyên Giáp ! cầu mong anh linh Đại tướng siêu thoát và độ trì cho dân tộc Việt Nam
Võ Quý Ngọc : Kính chào các cô bác anh chị em, Tôi là Võ Quý Ngọc, quê gốc xã Phong Thịnh, Thanh Chương Nghệ An. hiện đang ở huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình. Xin các cô bác cho biết kế hoạch phúng viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp của dòng họ nhà ta như thế nào? tôi xin trân trọng cảm ơn
Vu Duc Toan : Vĩnh biệt Bác, vị danh tướng huyền thoại Vĩnh biệt Bác, người anh hung Của mọi thời đại Bác ra đi mà vẫn như còn ở lại Đất nước này mãi mãi nhớ thương anh Văn. (Đêm 4/10/2013) Khi nghe tin bác mất-Đại tướng Võ nguyên Gíap từ trần-Bài thơ xin dân Bác.Tác giả Vũ Đức Toàn.Ban QLBVN
Vũ Toàn Năng : Vũ Hồn thủy tổ sáng ngời - Muôn đời con cháu nhớ ơn cao dầy!
Họ tên : Cảm ơn Tiana Alexandra đã cho tôi thêm một hình ảnh về lòng độ lượng bao dung về Đại tướng,Cảm ơn Tiana Alexandra người con hiểu và yêu thương hơn tổ quốc mình
vodactuan : muon tim ve cuoi nguon, doi ong bu toi que o van dien -ha noi chay tan cu len phu tho den nay doi chung toi mat lien lac mong duoc giup do tim ve cuoi nguon ai biet thong tin dong ho vu-vo xin lien lac cho toi theo so 0987876760, xin chan thanh cam on
Vũ Thanh Giang : Thật tự hào về Làng Mộ Trạch của chúng ta
Vũ Toàn Tài ( Vũ Đình Tài ) : Tự hào khi mình là người dòng họ Vũ - Võ
Đoàn Pháp : Tôi có bà cô sinh năm 1928, mất năm 1996 . Chồng bà cô là một thanh niên từ miền Bắc vào từ sau năm 1945. Ông lớn hơn Bà khoản một vài tuổi, Ông bị bệnh mất năm 1960. ( nếu còn sống thì hiện nay cũng chưa quá 90 tuổi ). Từ Miền Bắc vào , Ông chỉ làm thuê làm mướn rồi lấy vợ làm nông, lương thiện. Hiện giờ con của Ông còn sống gồm : 2 người con trai, 1 con gái. Tất cả đều có con cháu, đề huề. Ông Vũ Văn Hiệp ( 63 tuổi ) là con trai cả , cho biết : Cha ông bị bệnh đau bao tử rất nặng, biết mình không thể sống được lâu nên đã viết tên tất cả những người trong gia đình vào quyển vở học trò, viết mỗi người một trang, có cả tên vợ , tên chồng của những người đó, quê quán…. Vì chiến tranh , trải qua nhiều lần di tản nên quyển vở đó đã thất lạc; tuy nhiên ông Hiệp còn nhớ rõ tên một vài người mà cha ông đã ghi ( Vì khi ấy ông Hiệp được 10 tuổi, đã đi học, ông đọc được rất nhiều lần ). Tên cha ông Hiệp trên thẻ căn cước ( như CMND bây giờ ) do chế độ Việt Nam công hòa cấp là : Vũ Văn Thư. Về quê quán ông ghi trong sổ là : ấp Phủ Lý, quận Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Tên một số người được ghi trong quyển sổ là : Vũ Văn Mắt, Vũ Văn Láo, Vũ Văn Đáo, Vũ Văn Lẻo ( hoặc Vũ Thị Lẻo, ông Hiệp nhớ không rõ chữ lót nhưng tên Lẻo thì không quên ). Hiện nay ông Vũ Văn Hiệp và các em, con cháu đều sinh sống tại ấp Mỹ Hòa, xã Hòa Thắng , huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên, cách trung tâm thành phố Tuy Hòa 6 km. Ông Hiệp và anh em rất muốn tìm lại cội nguồn của mình, nhưng vì điều kiện kinh tế, thời gian, địa lý ….. nên chưa thực hiện được vì vậy ông Vũ Văn Hiệp đã nhờ tôi với tư cách là anh em nhà cô cậu họ, có nhiều điều kiện thuận lợi để truy tìm “ Chim có tổ, người có tông ” , vì vậy tôi rất mong quí cụ trưởng lão dòng họ Vũ, anh em , bà con ở Phủ Lý, Hà Nam , ai có thông tin gì về tên của những người nói trên xin vui lòng báo cho tôi qua số điện thoại : Đoàn Pháp 0903529039, hoặc email : phapdoan63@yahoo.com.vn Xin chân thành cảm ơn và chúc sức khỏe !
Võ huệ Nhơn : Không biết tổ tiên của mình có phải là ở làng MỘ TRẠCH kg nữa,vi2 mình ở tận Cần Thơ.Ở dây họ Vũ-Võ của mình cũng không nhiều lắm và cũng không ai biết tổ tiên khi xưa ở đâu di cư tới hay là đã ở đây từ lâu. Mong rằng mọi người có thể cho mình câu trả lời.
Vu Duc Man : Như thế thì tuyệt vời quá, nhưng liên kết tất gom lai dong họ ca nước thì tuyệt vời hơn.Binh Định cũng có nhiều họ Võ lắm đấy.
vo ta nhat : dong ho minh that la oach nhi
VŨ TRÍ ĐỨC : MÌNH TÊN LÀ VŨ TRÍ ĐỨC MÌNH ĐẾN TỪ BẮC GIANG, RẤT MONG ĐƯỢC LÀM QUEN VỚI CÁC BẠN
Võ trường san : Mình là con cháu thuộc gia tộc họ Võ Tại xã ĐỒng văn , Huyện Thanh Chương ,Tỉnh Nghệ An .Kính mong được liên lạc với các chi họ khác khắp cả nưoc.Minh đang làm gia phả cho gia tộc ở quê mình ,mong mọi người đồng ý cho mình lấy nội dung từ trang Wet.SDT 0937415888
Vũ Hùng Mười : Rất vinh dự được mang họ Vũ. Sinh năm 1985,quê quán Nông Cống - Thanh Hóa. Hiện là Họa sĩ tự do, tốt nghiệp ĐH mỹ thuật Việt Nam
Võ Bửu Duy : không biết nói gì hơn, thật vô cùng tự hoà khi mang dòng máu họ Võ
vo duy tuan : vo duy tuan doi thu 14 thuoc toc vo duc ...quang nam...thuy to la thai nguyen quan di cu vao quang nam the ky 16 ....
võ hoàng nam : e thật bất ngờ khj tjm kjếm thấy wed của dòng họ mjnh.thât là tuyệt vờj
Vũ Xuân Tình : Thân chào tất cả mọi người
Huỳnh Võ Phan Minh Sang : Mình tên Huỳnh Võ Phan Minh Sang nhưng gốc của mình là họ Võ, thật tự hào vì nguồn gốc tổ tiên là họ Võ
Vũ Mạnh Dũng : tự nhiên hôm mình ở nhà và quyết định muốn đi tìm hiểu về Gia Phả của mình, nhưng không ngờ lại tìm biết được tới cả ông Thủy Tổ. thật là kinh ngạc và vui đến nghẹt thở. Vũ- Võ vạn tuế
  Bình luận của bạn
(*) Mã:  ghtyx3
Quảng cáo
THỐNG KÊ
Khách online: 47
Số lượt truy cập: 29960098
   Trang chủ > Thơ ca - Câu đối - Danh ngôn > Câu đối >
  Câu đối tết cội nguồn phong tục và diễn biến lịch sử Câu đối tết cội nguồn phong tục và diễn biến lịch sử , Làng Mộ Trạch - Họ Vũ Võ Viêt Nam
 
Câu đối tết cội nguồn phong tục và diễn biến lịch sử

       Theo nhiều sử sách Trung Hoa cho biết, thì vào đời cổ đại/thời Hoàng Đế, trên núi Độ Sóc ở biển Đông, có một cây đào thần kỳ, tán cây toả rộng tới ba ngàn dặm, tại gốc đào khổng lồ ấy có hai vị thần tên là Thần Đồ và Uất Luỹ chuyên cai quản lũ quỷ dữ, con quỷ nào ác độc đều bị hai thần dùng thừng bện bằng cây sậy bắt trói đem cho hổ ăn. Do đó, Hoàng Đế sai lấy gỗ đào tạc hình Thần Đồ, Uất Luỹ và con hổ, lại gài cả thừng bằng sậy vào đó, rồi để bên của để trừ tà đuổi quỷ. Vào thời Chiến Quốc, vùng Trung Nguyên đã thấy có tục này, lâu dần về sau đã trở thành phong tục phổ biến trong dân gian. Cứ vào dịp Xuân về Tết đến, lại có tục ngày mồng 1 tháng Giêng, người ta lấy mảnh gỗ đào vẽ tượng trưng hình hai ông thần có tên Thần Đồ, Uất Luỹ, gọi là bùa đào (đào phú) để treo lên cửa, lại dán cả tranh vẽ gà và treo chiếc thừng sậy lên khung cửa để trừ tà, trừ bách quỷ. Về sau người ta chỉ viết tên Thần Đồ, Uất Luỹ lên bùa đào mà không cần vẽ hình. Đến thời Ngũ đại Hậu Thục (919 - 965), Thục chúa là Mạnh Sướng đã đích thân cầm bút viết lên mảnh gỗ đào hai vế đối:

"Tân niên nạp dư khánh
Gia tiết hào trường xuân".

Nghĩa là:


Năm mới tụ phúc lớn
Tiết đẹp gọi xuân dài. 

        Mọi người cho đây là câu đối Tết sớm nhất trong lịch sử Trung Quốc. Người Trung Hoa thường gọi câu đối Tết với nhiều tên khác nhau: Xuân liên, đối liên, môn đối, đối tử... song tên gọi Xuân liên là phổ biến hơn cả.

      Từ đời Tống trở đi, cứ dịp Tết Xuân các văn nhân học sĩ lại đua nhau làm câu đối để gửi gắm tâm tình, chí hướng của mình. Nhiều giai thoại còn chứng tỏ tình hình này: Chẳng hạn có thể kể chuyện Tô Đông Pha làm câu đối nhân dịp dọn nhà mới vào đúng dịp năm mới:

        Xuân phong xuân vũ xuân sắc
        Tân niên tân cảnh tân gia


         Nghĩa là:
         Gió xuân, mưa xuân, sắc xuân
         Năm mới, cảnh mới, nhà mới


         Sau khi câu đối dán lên cổng, kẻ qua người lại đều khen ngợi, thích thú, và đến đêm tối đôi câu đối đã bị bóc trộm. Tô Đông Pha bực mình, bèn viết lại hai câu khác: 


         Phúc vô song chí
         Hoạ bất đơn hành


          Nghĩa là:


         Phúc không hai lần tới
         Hoạ chăng một phen về


         Bà vợ nhà thơ cằn nhằn là câu đối viết thế thì xúi quẩy lắm. Mà quả như cảm nhận của bà vợ nhà thơ, có lẽ nhiều người cũng nghĩ vậy, nên câu đối vẫn còn, không bị ai bóc trộm nữa. Còn Tô Đông Pha thì chỉ cười thầm, rồi ông lấy bút mực viết nối thêm như sau:


        Phúc vô song chí kim chiêu chí 
        Hoạ bất đơn hành tạc dạ hành


        Nghĩa là:
        Phúc không hai tới sớm nay tới 
        Hoạ chẳng một đi đêm qua đi


        Đây chẳng qua cũng là một định kiến trong dân gian "Hoạ vô đơn chí/Phúc bất trùng lai" (Hoạ không một lần tới/Phúc chẳng hai phen về) song
Tô Đông Pha lại muốn nói khác đi: Phúc vẫn đến hai lần, mà hoạ chẳng tới lần nào... bởi đêm qua nó đã đi mất tăm rồi. 


       Nhưng theo truyền tụng, cái tên Xuân liên (câu đối Xuân) được mệnh danh chính thức là do từ Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Sau khi định đô ở Nam Kinh, ông vua này đã hạ lệnh cho mọi người vào trước đêm 30 Tết đều phải làm đôi câu đối dán ở cổng, rồi nhà vua còn đi vi hành các phố phường để kiểm tra việc này. Từ đời Minh, câu đối Xuân/Tết bắt đầu thịnh hành và đều được viết trên giấy thay vì viết trên mảnh gỗ đào như xưa kia. Bấy giờ, người Trung Hoa thường thích dùng giấy đỏ để viết câu đối tết; duy cung thất dùng giấy trắng, mép viền đỏ/xanh, và nếu không phải tông thất không được dùng kiểu giấy này. Điều thú vị là sách "Yên Kinh tuế thì ký" còn cho biết: Cứ vào khoảng cuối tháng Chạp hằng năm, một số văn nhân mặc khách nhất là những thư pháp gia lại ngồi dưới mái hiên hè phố, để viết câu đối Tết kiếm chút tiền.

       Đó là nói về mặt cội nguồn và ý nghĩa sâu xa của câu đối Tết như là một phong tục ngày Xuân. Còn xét về mặt văn học thì đúng như Dương Quảng Hàm đã nhận định: Một đặc tính của văn chương chữ Hán (Trung Quốc, Việt Nam) là phép đối, không những là văn vần (thơ, phú) mà các bền văn (câu đối, tứ lục, kinh nghĩa), và đến cả văn xuôi nhiều khi cũng đặt thành hai câu đối nhau, hoặc hai đoạn trong một câu đối nhau. Về phép đối trong thuật làm câu đối, Dương Quảng Hàm cũng cho biết sơ lược về các phép đối ý (nội dung tư tưởng); đối chữ (tự loại); đối thanh (bằng, trắc) v.v... (Việt Nam văn học sử yếu).

        Như vậy, bắt nguồn từ tục treo bùa đào (đào phù) câu đối Tết trong quá trình diễn biến lịch sử đã kết hợp với các thể loại thơ văn chữ Hán để trở thành một thể loại độc lập mang tính văn học, hay nói khác đi, câu đối cũng là một thể loại văn học. Do đó, người ta không chỉ làm câu đối mỗi khi Tết đến Xuân về, mà còn làm cả câu đối mừng thọ, mừng đám cưới, câu đối điếu tang, câu đối ở các đình chùa, đền miếu v.v...

         Việt Nam, Trung Quốc do hoàn cảnh địa lý - lịch sử; văn hóa/phong tục có nhiều điểm gần gũi. Tục chơi câu đối Tết của Trung Quốc truyền sang ta từ lúc nào không thấy sử sách cũ ghi chép. Song, căn cứ vào bài thơ Nôm “Tứ thơ khúc vịnh” của Hoàng Sĩ Khải, được viết khoảng cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII còn có câu: “Đào phù cấm quỷ phong linh ngăn tà”, thì có thể biết tục treo bùa đào (hình thức tiền thân của câu đối Tết) cũng đã xuất hiện ở Việt Nam thời này. Còn theo sử sách cũ thì vào thời Lê Thánh Tông (1460), có nhiều giai thoại nói về việc nhà vua vi hành kinh thành Thăng Long và làm câu đối Tết hộ các nhà dân làm nghề thợ nhuộm, hót phân... Như thế có thể biết chắc chắn rằng, từ thời Lê Thánh Tông, tục chơi câu đối Xuân/Tết ở Việt Nam đã rất thịnh hành. Kho tàng giai thoại văn học Việt Nam còn để lại nhiều chuyện khá lý thú về việc vua Lê Thánh Tông đi chơi phố phường Thăng Long và làm câu đối tết cho dân. Chúng ta hãy nghe một vài chuyện:


        - Tục truyền, vào tối 30 Tết năm nọ, vua Lê Thánh Tông giả làm chân học trò đi dạo xem các câu đối ở kinh thành. Chợt qua cửa nhà một người đàn bà làm nghề thợ nhuộm, thấy không có câu đối, nhà vua lấy làm lạ ghé vào thăm hỏi. Người đàn bà kêu là goá chồng, con trai là học trò nhỏ chưa biết làm câu đối. Nhà vua liền bảo lấy giấy hồng điều và bút mực, rồi vua hạ bút viết hộ một câu đối như sau:


        Thiên hạ thanh hoàng giai ngã thủ
        Triều trung chu tử tổng ngô gia


         Nghĩa là: 
         Xanh vàng thiên hạ đều tay mỗ
         Đỏ tía trong triều bởi cửa ta


        Mấy hôm sau, Thượng thư đương triều là Trạng nguyên Lương Thế Vinh đi chầu qua nhà thợ nhuộm thấy câu đối có khẩu khí như vậy thì hoảng hốt vô cùng. Vào triều, họ Lương tâu với vua rằng ngoài phố có nhà ấy nhà nọ có ý muốn làm bá chủ thiên hạ, cần phải cho người đi dò xét. Lê Thánh Tông nghe xong, phì cười, nhận câu đối đó là do chính tay mình viết hộ, khiến Thượng thư họ Lương bị một phen chưng hửng. Nhưng sau đó, quan Thượng thư thầm nghĩ rằng nhà thợ nhuộm mà Tết nhất lại được Thiên tử ngự giá đến, hẳn sau này con cháu phải giàu sang lắm, bèn đem ngay cô con gái út đến gả cho con trai nhà thợ nhuộm.

        - Một chuyện khác kể rằng, nhân dịp đầu năm mới, vua Lê Thánh Tông ăn mặc giả làm thường dân đi chơi phố phường kinh đô để xem xét dân tình. Đi tới đâu nhà vua cũng thấy la liệt những câu đối ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị, nhà vua rất hài lòng. Riêng nhà nọ, chẳng treo đèn kết hoa, cũng chẳng có đối liễn gì hết. Vua rẽ vào hỏi, chủ nhà trả lời rằng:


        "Chả nói giấu gì bác, nhà cháu làm cái nghề hèn hạ quá, nên chẳng dám phô phang gì với phố phường cho thêm tủi!" 

        Vua ngạc nhiên nói: "Sao lại có nghề gì là nghề hèn hạ?" 
        Chủ nhà cứ thật thà trả lời:
        "Dạ, nhà cháu chỉ chuyên đi hót phân người để bán thôi ạ!"
         Nhà vua nghe xong, cười bảo:
"ồ, nếu vậy nhà bác đây là sang trọng bậc nhất, mà nghề của bác cũng vẻ vang bậc nhất. Câu đối của bác nếu dán lên cũng hay bậc nhất, việc gì mà lại kêu là hèn!" 
         Rồi vua gọi lấy giấy bút, viết giùm cho một đôi câu đối như sau:
         ý nhất nhung y, năng đảm thế gian nan sự
         Đề tam xích kiếm, tận thu thiên hạ nhân tâm.


Nghĩa là: 
          Khoác một áo bào, gánh vác khó khăn thiên hạ
          Cầm ba thước kiếm, tận thu lòng dạ thế gian.


         Khách qua lại nhìn đôi câu đối, quả nhiên đều kinh ngạc, xôn xao bàn tán về cái khẩu khí lớn lao của đôi câu đối...


        Ngoài câu đối viết bằng chữ Hán, đặc biệt ở Việt Nam, câu đối Tết còn được làm bằng chữ Nôm, và về sau câu đối Tết còn được viết cả bằng chữ quốc ngữ. Trong di sản câu đối Tết, còn lưu truyền những câu đối Tết hoặc Hán, hoặc Nôm rất hay của các danh sĩ hàng đầu như Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú Xương...

        Chẳng hạn, Bà chúa thơ Nôm còn để lại một đôi câu đối Tết vừa mang màu sắc phồn thực vừa như Bà cũng thức nhận được cái ý nghĩa ma thuật "Đào phù cấm quỷ" thời cổ đại:
      Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỷ tới, Sáng mùng Một lỏng then tạo hoá, mở toang ra cho thiếu nữ đón xuân vào. Còn về Thánh Quát, trong một dịp đón xuân ở Hà Thành, rất nhiều người đến xin câu đối về dán, cũng lưu truyền những mẩu chuyện vui vui. Số là trong đám người đến xin câu đối Tết, có một anh chàng làm nghề đóng áo quan, và một chị nọ đang bụng mang dạ chửa. Để đỡ mất công suy nghĩ, Thánh Quát bèn viết cho anh thợ đóng áo quan một đôi câu đối như sau:


        Thiên thiêm tuế nguyệt nhân thiêm Thọ
        Xuân mãn càn khôn phúc mãn Đường


Nghĩa là: 
        Trời thêm năm tháng người thêm Thọ 
         Xuân khắp non sông Phúc chật nhà


         Đây là câu đối có sẵn, đã thành khuôn sáo cũ, mà thời xưa, hầu như trong dân gian chẳng mấy ai không thuộc cả; cả Trung Quốc và Việt Nam đều như vậy. Thế nhưng cái sự tài tình mà cũng là cái sự hóm hỉnh của Cao Bá Quát lại là ở chỗ lợi dụng được hai chữ thọ đường. Chữ Thọ đứng riêng là sống lâu, chữ Đường đứng riêng là cái nhà; nhưng thọ đường ghép liền thì lại có nghĩa là cỗ áo quan/cỗ quan tài. Câu đối vừa mừng Xuân vừa chỉ đích danh vào cái nghề đặc biệt của anh thợ mộc thì quả là sâu sắc và hay tuyệt.Còn với chị đàn bà bụng chửa, Thánh Quát vẫn sử dụng đôi câu đối ấy, song bớt đi mỗi vế một chữ cuối, và đảo ngược hai vế thành ra:


        Xuân mãn càn khôn, phúc mãn
        Thiên thiêm tuế nguyệt, nhân thiêm


Nghĩa là: 

        Xuân đầy trời đất, phúc đẫy
        Trời thêm năm tháng, người thêm


         Vế trên nói đến ý "phúc đẫy" rõ ràng là nói về cái bụng chửa; bởi chữ phúc là hạnh phúc cũng đồng âm với chữ phúc là cái bụng, mà "phúc mãn" có nghĩa là cái bụng đẫy/bụng to, tức là bụng có chửa. Còn vế dưới nói đến ý "người thêm", rõ ràng là chỉ vào việc người phụ nữ sắp đẻ, sắp thêm người thêm của như lời chúc của dân gian. Bụng to rồi đẻ thêm người, như thế là "mẹ tròn con vuông". Phỏng có lời chúc nào đúng và hay hơn ý tứ của đôi câu đối đó!


        - Người làm câu đối Nôm nổi tiếng nhất, nhiều nhất, hay nhất, tài tình nhất, theo nhận xét của Xuân Diệu, đó chính là Nguyễn Khuyến. Quả có như vậy. Đáng chú ý là một số lượng lớn câu đối Nôm của Nguyễn Khuyến đều là làm giúp cho người khác. Điều này càng chứng tỏ uy tín lớn của nhà thơ đối với công chúng đương thời. Riêng một số câu đối Tết là những câu nhà thơ làm cho chính mình.


        Tương truyền khi Nguyễn Khuyến cáo quan về dạy học ở một làng nọ, theo lệ cứ đến khoảng cuối tháng Chạp, vào dịp năm hết Tết đến là các phụ huynh học sinh lại tính sổ để trả nốt tiền cho thầy về quê ăn Tết. Nguyễn Khuyến vốn là nhà thơ thích khôi hài, trước cảnh tượng các ông bố học trò lui tới nộp tiền cho thầy, liền tức cảnh hai vế đối Nôm như sau:


        Hàng ngày mổ bụng con nhét chữ 
        Cuối năm bổ đầu bố lấy tiền


       Ai đọc đôi câu đối cũng phải buồn cười, song không ai là không bội phục cái tài chơi chữ của cụ Tam Nguyên.


        Một chuyện khác kể rằng: Cũng vào thời gian cụ Tam Nguyên Yên Đổ/Nguyễn Khuyến về làng dạy trẻ, lại cũng vào dịp đón xuân mới, bạn bè các nơi rủ nhau về thăm cụ khá đông vui. Trong cuộc rượu mừng hội ngộ, nhà thơ Nguyễn Khuyến đã nổi hứng làm luôn đôi câu đối Nôm khá dài để nói về cái cảnh mình vừa mở trường dạy học vừa tham gia công việc ở làng quê:
Quan chẳng quan thì dân, chiếu trung đình ngất ngưởng ngồi trên, nào lềnh, nào trưởng, nào bàn ba, tiền làm sao, gạo làm sao, đóng góp làm sao, một năm mười hai tháng thảnh thơi, cái thủ lợn nhìn thầy đà nhẵn mặt. Già chẳng già với trẻ, đàn tiểu tử lau nhau đứng trước, này phú, này thơ, này đoạn một, bằng là thế, trắc là thế, điểm khuyên là thế, ba vạn sáu ngàn ngày thấm thoắt, con mắt gà đeo kính đã mòn tai.

        (Vế đối trên nói về việc Nguyễn Khuyến hăng hái tham gia công việc làng - Chiếu trung đình là chỉ việc cụ Tam Nguyên giữ ngôi tiên chỉ ở làng, khi ra đình, được ngồi chiếu giữa - Lềnh, Trưởng là hai chức vị ở làng, dành cho người có danh vọng và nhiều tuổi nhất - Bàn ba là bàn dọn cỗ hàng thứ ba ở đình làng - Thủ lợn là lễ vật cúng ở đình, sau khi cúng xong thì ngôi tiên chỉ được hưởng lộc.

        Vế đối dưới nói về việc cụ Tam Nguyên sau khi cáo quan về mở trường dạy học trò - Chẳng già với trẻ là ý nói không muốn già với đám trẻ con, cũng hoà mình vui đùa với chúng - Tiểu tử, chỉ các học trò nhỏ - Đoạn một là lối tập làm văn giản đơn - Bằng trắc, tức âm đọc không dấu hoặc dấu huyền là bằng; âm đọc có dấu sắc, nặng, hỏi, ngã là trắc - Điểm khuyên chỉ cách chấm văn chữ Hán - chữ Nôm xưa, chỗ nào hay vừa thì thầy chấm những chấm son bên cạnh, chỗ nào thật hay thì khuyên vòng tròn, còn chỗ nào dở thì thầy sổ nét dọc - Mắt gà chỉ mắt bị bệnh quáng gà hoặc mắt mờ mờ như quáng gà).

         Hai vế đối của Tam Nguyên Yên Đổ tuy là tả thực, nhưng đọc kỹ ta vẫn nhận ra cái giọng chua xót của một cây bút trào phúng thâm trầm, sâu sắc. Nguyễn Khuyến là nhà Nho ưu thời mẫn thế và sống có nhân cách. Tuy có hơn 10 năm làm quan với triều Nguyễn "Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu", nhưng vì trọng khí tiết nên nhà thơ cam chịu sống thanh bần:


        Sớm trưa dưa muối cho qua bữa
        Chợ búa trầu chè chẳng dám mua 
        (Chốn quê) 

         Những nỗi niềm cay đắng, xót xa này, chúng ta đều phảng phất thấy trong câu đối Tết của nhà thơ: Mổ bụng con nhét chữ/bổ đầu bố lấy tiền - Thủ lợn nhìn thầy đà nhẵn mặt/mắt gà đeo kính đã mòn tai...


       Phải nhận rằng kho tàng câu đối Nôm - trong đó câu đối Tết, đến Nguyễn Khuyến đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật. Đây là một bước phát triển đầy sáng tạo của văn học trung đại Việt Nam, đồng thời đây cũng là một di sản văn hóa phi vật thể vô cùng quý báu và hiếm lạ của văn hóa Việt Nam.

        Cho tới trước năm 1945, tục chơi câu đối Tết vẫn rất thịnh hành: Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ/Cây nêu tràng pháo bánh trưng xanh. Vào thời điểm "ông Nghè ông Cống cũng nằm co", ngoài câu đối Tết viết bằng chữ Hán - Nôm, câu đối Tết viết bằng chữ quốc ngữ cũng khá phát triển và được nhiều người ưa thích. ở đây cũng cần nói thêm rằng, đồng thời với việc làm câu đối Tết, còn kéo theo cả sự phát triển của nghệ thuật thư pháp mà bài thơ "ông đồ" nổi tiếng của Vũ Đình Liên còn phản ánh rõ thú chơi này:


        Mỗi năm hoa đào nở
        Lại thấy ông đồ già 
        Bày mực tàu giấy đỏ
        Bên phố đông người qua

        Bao nhiêu người thuê viết
        Tấm tắc ngợi khen tài 
        Hoa tay thảo những nét 
        Như phượng múa rồng bay...

        Ngày nay, cứ mỗi khi Xuân về Tết đến, các tay thư pháp mới cũng lại đua nhau viết câu đối Tết trên đường phố ở một số đô thị lớn (họ viết cả Hán - Nôm và chữ quốc ngữ). Rồi trên các trang báo Xuân báo Tết cũng không thể thiếu câu đối Tết. Thiết nghĩ đây cũng là một tục đẹp, một thú chơi văn hóa Tết cần duy trì và phát triển như một di sản văn hoá phi vật thể truyền thống sống động.

(Tạp chí Di sản văn hóa số 1 (14)- 2006)

GS.TS Kiều Thu Hoạch


  Bình luận của bạn
(*) Họ tên:  
(*) Email:  
(*) Tiêu đề:  
(*) Nội dung:  
Mã: 
ipw368

Nội dung các bình luận
 

Các tin khác
  + Một số Câu đối của Giáo sư-AHLĐ Vũ Khiêu (27/03/2013)
  + Câu đối chữ Hán về học tập, tu dưỡng (27/07/2012)
TIN MỚI NHẤT
Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi Võ Phấn từ trần hưởng thọ 100 tuổi Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi Võ Phấn từ trần hưởng thọ 100 tuổi
HĐDH Vũ - Võ huyện Tiên Phước tổ chức lễ: HĐDH Vũ - Võ huyện Tiên Phước tổ chức lễ: "Tôn vinh Nhân tài và Khuyến học lần thứ nhất"
Báo cáo kết quả hoạt động của ĐHDH Vũ - Võ Việt Nam từ Hội nghị BCH lần thứ 3 khóa VI đến Hội nghị lần thứ 4 và phương hướng nhiệm vụ năm 2014 Báo cáo kết quả hoạt động của ĐHDH Vũ - Võ Việt Nam từ Hội nghị BCH lần thứ 3 khóa VI đến Hội nghị lần thứ 4 và phương hướng nhiệm vụ năm 2014
Thư mời Lễ giỗ Thủy tổ dòng họ Vũ - Võ Việt Nam Thư mời Lễ giỗ Thủy tổ dòng họ Vũ - Võ Việt Nam
Kỷ niệm Hội đồng dòng họ với Võ Đại tướng Kỷ niệm Hội đồng dòng họ với Võ Đại tướng
QUẢNG CÁO

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ WWW.HOVUVOVIETNAM.COM

Địa chỉ: số 46, ngõ 86, đường Ngọc Thụy, quận Long Biên, TP Hà Nội Email: vuxuankien@hovuvovietnam.com

Sáng lập và quản lý: Vũ Xuân Kiên (Ủy viên Thường vụ Hội đồng dòng họ Vũ - Võ Việt Nam) * ĐT: 09.345.17.666 / 0983.665.716
Group Dòng họ Vũ - Võ Việt Nam trên Facebook: www.facebook.com/groups/hovuvovietnam/

Bản quyền thuộc về  "hovuvovietnam.com " - ©2008-2014. Ghi rõ nguồn:  "hovuvovietnam.com" khi phát hành lại thông tin từ website này.